Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Thuế bảo vệ môi trường đối với túi xu hướng ni lông.

- Việc kê khai và nộp thuế BVMT đối với số lượng túi ni lông không được sử dụng hoặc sử dụng không hết nêu trên như sau: + Trường hợp túi ni lông được nhập cảng theo loại hình nhập khẩu vật liệu, vật tư để sản xuất xuất khẩu hoặc gia công để xuất khẩu: người nhập cảng thực hành kê khai, nộp thuế BVMT đối với số lượng túi ni lông không được dùng hoặc sử dụng không hết nêu trên tại cơ quan hải quan

Thuế bảo vệ môi trường đối với túi ni lông

Ảnh minh họa. Người nhập khẩu thực hành kê khai, nộp thuế theo tháng theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.

- Tại điểm 1. - Tại Điều 1 Nghị định số 69/2012/NĐ-CP ngày 14/9/2012 quy định sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ quy định về đối tượng chịu thuế như sau: "3. Cứ các quy định nêu trên thì: - Trường hợp túi ni lông mà người nhập khẩu đã có khai báo về việc nhập cảng để đóng gói sản phẩm nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không hết để đóng gói sản phẩm mà đã dùng để bàn thảo, tiêu dùng nội bộ, tặng cho (riêng túi ni lông nằm trong tỉ lệ hao đã đăng ký hoặc không đăng ký định mức với cơ quan hải quan như bị rách, thủng, nhàu nát… trong quá trình sản xuất - không phân biệt là sau đó số lượng túi ni lông này được bán, bàn thảo, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, tiêu hủy thì được xác định là số lượng túi ni lông không được sử dụng hoặc dùng không hết) thì người nhập khẩu phải kê khai, nộp thuế BVMT đối với túi ni lông không được dùng hoặc dùng không hết đó và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi dùng gây tác động xấu đến môi trường". B2) Đối với bao bì nhập cảng thì người nhập cảng bao bì phải cung cấp cho cơ quan thương chính khi nhập khẩu: Hồ sơ thương chính bao bì du nhập theo quy định.

Thời khắc kê khai, nộp thuế thực hành theo hướng dẫn tại Thông tư số 117/2011/TT-BTC ngày 15/8/2011 và Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010 của Bộ Tài chính.

Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa quy định tại Khoản này (kể cả có dạng hình túi và không có dạng hình túi), bao gồm: a) Bao bì đóng gói sẵn hàng hóa nhập cảng; b) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự sinh sản hoặc nhập cảng để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói; c) Bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chủ nghĩa mua trực tiếp của người sản xuất hoặc người du nhập để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sinh sản, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói".

Trường hợp trong tháng không nảy thuế bảo vệ môi trường phải nộp thì người nộp thuế vẫn kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để theo dõi.

- Tại điểm a2 điểm b2 Điều 1 Thông tư số 159/2012/TT-BTC ngày 29/8/2012 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính quy định sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 1 như sau: Bao bì mà người sinh sản hoặc người du nhập đã có cam kết hoặc khai báo tại khâu du nhập để đóng gói sản phẩm, nhưng sau đó không dùng để đóng gói sản phẩm mà đã sử dụng để bàn thảo, tiêu dùng nội bộ, tặng cho thì người sản xuất hoặc người nhập khẩu bao bì phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

B) Đối với hàng hóa du nhập, hàng hóa nhập khẩu ủy thác thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường thì người nộp thuế thực hiện khai thuế, tính thuế và nộp thuế theo từng lần phát sinh (trừ trường hợp xăng dầu du nhập để bán). Hạn vận nộp thuế bảo vệ môi trường trong trường hợp này là kì hạn nộp thuế nhập cảng theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành".

+ Trường hợp túi ni lông được nhập cảng theo loại hình nhập kinh doanh: người du nhập thực hành kê khai, nộp thuế BVMT đối với số lượng túi ni lông nhập cảng không được dùng hoặc sử dụng không hết nêu trên tại cơ quan thuế nơi người du nhập có trụ sở chính.

Nguồn: internet Về vấn đề này, Bộ Tài chính chỉ dẫn như sau: - Tại Khoản 1 Điều 2 Luật thuế BVMT quy định: "1. 3 Điều 7 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính quy định về khai thuế BVMT như sau: "a) Đối với hàng hóa sản xuất bán ra, thảo luận, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, lăng xê thực hành khai thuế, tính thuế và nộp thuế theo tháng theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Cơ quan thương chính có trách nhiệm thông tin bằng văn bản song song gửi kèm bản chụp hồ sơ du nhập tới cơ quan thuế nơi người du nhập có trụ sở chính để xử lý theo quy định.

Đối với túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa) quy định tại khoản 4 Điều 3 của Luật thuế bảo vệ môi trường là loại túi, bao bì nhựa mỏng có hình trạng túi (có miệng túi, có đáy túi, có thành túi và có thể đựng sản phẩm trong đó) được làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hóa và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Người du nhập tự khai báo, tự chịu trách nhiệm theo quy định của luật pháp về nội dung khai báo nhập khẩu bao bì để đóng gói sản phẩm hoặc để bán trực tiếp cho người mua bao bì để đóng gói sản phẩm…". Việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hóa nhập khẩu được thực hành cùng thời điểm với việc khai thuế và nộp thuế du nhập, trừ mặt hàng xăng dầu du nhập được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét