Trong điều kiện nguồn lực của ngân sách còn hạn chế thì việc tụ tập một số nguồn thu riêng hoặc huy động thêm nguồn lực tài chính cho một số nhiệm vụ chi đã có tác động hăng hái trong việc giải quyết một số nhiệm vụ quan trọng, các vấn đề an sinh từng lớp, như: khám chữa bệnh cho người nghèo (Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo); đầu tư phát triển nhà ở (các Quỹ phát triển nhà ở địa phương); hỗ trợ giải quyết việc làm (Quỹ quốc gia giải quyết việc làm)
Trong thời gian tới, đề nghị các bộ, ngành, địa phương cần tiếp chuyện thực hiện thẩm tra lại các quỹ tài chính quốc gia hiện có; tiếp kiến đẩy mạnh thực hiện sắp đặt lại các quỹ theo ý thức Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 1/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉnh đốn việc thực hành các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy động và dùng các khoản đóng góp của quần chúng.
500 tỷ đồng với sự dự của trên 7,9 triệu đối tượng; Quỹ dịch vụ viễn thông công ích huy động đóng góp từ các doanh nghiệp 5. Theo quy định, các quỹ tài chính quốc gia phải thực hành đồ mưu hoạch thu, chi tài chính quỹ hàng năm ít cơ quan chủ quản duyệt; thực hiện báo cáo quyết toán tài chính hàng năm.
Định hướng đổi mới trong thời kì tới Một là, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật NSNN. Ba là, góp phần phát triển mở mang, đa dạng các hoạt động tài chính của quốc gia.
Thứ ba, cần tăng cường cơ chế kiểm soát đối với các quỹ tài chính quốc gia. Trong một số trường hợp, nguồn thu đáng ra phải được tụ hợp vào ngân sách thì lại đưa vào quỹ tài chính; hoặc nhiệm vụ chi của quỹ tài chính quốc gia trùng với nhiệm vụ chi của NSNN (Quỹ bảo trì đường bộ có nguồn thu từ phí sử dụng đường bộ, Quỹ môi trường được bổ sung từ phí bảo vệ môi trường…).
Hai là, nâng cao hiệu quả hoạt động các quỹ tài chính nhà nước. Cho nên, trong trường hợp Hội đồng quản lý, Ban kiểm soát, Bộ máy quản lý điều hành quỹ yếu kém, quản lý không chặt sẽ dễ dẫn đến khả năng vi phạm chế độ ăn tiêu, sử dụng kinh phí sai mục đích, thất thoát, lãng phí.
Do đó, việc thành lập nhiều quỹ tài chính nhà nước mà nguồn cân đối đẵn là từ NSNN sẽ dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực NSNN. Tùy theo quy mô, thuộc tính hoạt động, ít quyết toán tài chính hàng năm của một số quỹ tài chính quốc gia phải được kiểm toán theo quy định. Thực tiễn thời gian qua số lượng các quỹ tài chính nhà nước tăng nhanh; đồng thời có thiên hướng khi trình Quốc hội ban hành các luật quản lý chuyên ngành đều kèm theo các quy định về thành lập các quỹ tài chính quốc gia (Luật liên lạc đường bộ; Luật cộng tác xã; Luật khoa học và công nghệ; Luật bảo vệ môi trường.
Thời gian qua, một số quỹ tài chính đã thực hiện huy động đóng góp của các DN, các tổ chức kinh tế và người lao động (cốt yếu là huy động thắt), qua đó đã động viên thêm được nguồn tài chính phục vụ cho một số đích của cộng đồng hoặc của ngành, lĩnh vực, thực hành tốt các chính sách an sinh tầng lớp. Một số tồn tại Bên cạnh mặt hăng hái trên, các quỹ tài chính quốc gia cũng còn một số mặt hạn chế, cần phải khắc phục, như: Thứ nhất, việc huy động của một số quỹ tài chính nhà nước còn hạn chế, đốn vẫn là từ NSNN, dẫn đến tình trạng phân tán nguồn lực NSNN.
Kết quả hoạt động và một số tồn tại Những mặt hăng hái Một là, một số quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách đã huy động thêm nguồn lực tài chính để thực hiện những đích nhất mực. Trong đó, có một số quỹ được NSNN cấp tương trợ vốn thành lập ban sơ hoặc tương trợ vốn trong quá trình hoạt động. - Xét theo đặc điểm và mục đích sử dụng: Các quỹ tài chính quốc gia được chia thành: Quỹ chuyên dùng chỉ dùng cho một số nhiệm vụ, hoạt động nhất quyết, như: Quỹ phát triển khoa học công nghệ nhà nước; Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài; Quỹ tương trợ phát triển hợp tác xã Việt Nam; Quỹ bảo vệ môi trường.
Ở nước ta, do đề nghị tụ hợp nguồn lực tài chính của nhà nước để thực hiện một số nhiệm vụ chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển giang sơn. Trong thời kì tới, cần nghiên cứu ban hành khuôn khổ pháp lý quy định hợp nhất về quản lý các quỹ tài chính quốc gia, trong đó quy định rõ về điều kiện thành lập, thẩm quyền cho phép thành lập, nguyên tắc về tổ chức, cơ chế tài chính, cơ chế hoạt động quỹ, cũng như quan hệ giữa các quỹ tài chính với NSNN và giữa các quỹ trong hệ thống tài chính quốc gia.
498 tỷ đồng trong thời đoạn 2006-2010; các quỹ tài chính thực hiện mục tiêu hỗ trợ người nghèo, người yếu thế trong xã hội (Quỹ bảo trợ trẻ mỏ, Quỹ hỗ trợ người nhiễm HVI/AIDS,…) cũng huy động thêm nguồn lực đóng góp của cộng đồng. Xét về quy mô, có một số quỹ tài chính nhà nước của Trung ương như: Quỹ bảo hiểm xã hội nép, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, Quỹ cho vay giải quyết việc làm, Quỹ tương trợ xếp đặt doanh nghiệp Trung ương, Quỹ tích lũy trả nợ và các Quỹ đầu tư phát triển ở địa phương là có nguồn thu - nhiệm vụ chi lớn (chiếm trên 95% tổng số chi của các quỹ tài chính nhà nước); còn lại đẵn là các quỹ có quy mô vốn nhỏ, khuôn khổ hoạt động hẹp trong một lĩnh vực hoặc một địa phương.
Tình trạng này, một phần do nguyên nhân Luật NSNN hiện hành năm 2002 và các văn bản chỉ dẫn thi hành luật chưa có quy định hay phân định cụ thể khuôn khổ các khoản thu được đưa vào các quỹ tài chính quốc gia là thuộc hay không thuộc NSNN.
700 tỷ đồng với sự tham dự đóng góp của trên 10 triệu đối tượng; Quỹ bảo hiểm y tế có số dư đến cuối năm 2011 ước khoảng 9. - Xét theo thuộc tính ép: Quỹ tài chính quốc gia được phân thành: Quỹ huy động ép, như: Quỹ bảo hiểm tầng lớp thắt, Quỹ bảo trì đường bộ…; Quỹ huy động tình nguyện, như: Quỹ bảo hiểm từng lớp tình nguyện… Một trong những vấn đề được quan tâm nhiều đối với hoạt động của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách là chế độ mỏng, công khai.
Ảnh minh họa. Cũng tạo điều kiện cuộn thêm các nguồn lực cả trong và ngoài nước, giảm bớt sự bao cấp từ ngân sách và giảm gánh nặng cho ngân sách. Để bảo đảm tính thống nhất trong việc quản lý thu, chi đối với các quỹ tài chính quốc gia, Bộ Tài chính đang nghiên cứu sửa đỏi, bổ sung quy định trong Luật NSNN về khái niệm quỹ tài chính quốc gia, quy định rõ quỹ tài chính nhà nước là quỹ có nguồn thu (một phần hay toàn bộ) được hình thành từ khoản thu của nhà nước và có nhiệm vụ chi (một phần hay tuốt tuột) là các nhiệm vụ chi của quốc gia, nhưng không trùng với nhiệm vụ chi của NSNN.
Phê chuẩn hoạt động của một số quỹ tài chính quốc gia, cũng góp phần thúc đẩy quá trình tầng lớp hóa, giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề kinh tế - tầng lớp nảy sinh, đặc biệt là các vấn đề xã hội bức xúc. Tổng kết sơ bộ đến nay, có khoảng trên 20 quỹ/ loại quỹ tài chính nhà nước đã được thành lập ở Trung ương và địa phương, với quy mô, tính chất, khuôn khổ hoạt động khá đa dạng.
Ngoại giả, việc thành lập các quỹ tài chính quốc gia có sự tham gia đóng góp của người hưởng lợi như Quỹ bảo hiểm từng lớp, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. 100 tỷ đồng với sự tham dự của trên 55,8 triệu đối tượng; Quỹ bảo hiểm thất nghiệp có số dư đến cuối năm 2011 ước khoảng 15.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ và quy định tại các quyết định thành lập quỹ, các quỹ tài chính nhà nước phải thực hành chế độ công khai tài chính để tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan quốc gia có can dự và dân chúng.
Về chỉ dẫn cơ chế tài chính các quỹ tài chính quốc gia, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, Bộ Tài chính đã ban hành hoặc phối hợp với các Bộ, cơ quan Trung ương có liên tưởng ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện chế độ tài chính đối với các quỹ tài chính nhà nước.
Hai là, tụ hội nguồn lực tài chính để thực hành một số mục tiêu, nhiệm vụ nhất thiết.
Bên cạnh đó, việc thành lập các quỹ tài chính quốc gia cho các đích an sinh từng lớp, tương trợ người nghèo, người yếu thế trong từng lớp. Nên, cần thiết thành lập các quỹ tài chính nhà nước để tụ hội nguồn lực để thực hành các nhiệm vụ này. Hiện giờ, các quỹ tài chính nhà nước đều được thành lập theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật có liên can. Chả hạn như: Quỹ bảo hiểm xã hội thắt có số dư đến cuối năm 2011 ước khoảng 156.
Để bảo đảm hoạt động có hiệu quả các quỹ tài chính nhà nước, nâng cao tính độc lập, khả năng tự cân đối của quỹ, hạn chế tài trợ từ NSNN, kiến nghị không thành lập thêm các quỹ không có khả năng tài chính độc lập, đặc biệt là các quỹ có nguồn huy động, tài trợ cốt tử là từ NSNN.
Cũng hạp với thông lệ quốc tế, chia sẻ gánh nặng tài chính giữa quốc gia, doanh nghiệp và người cần lao. Chuẩn y các hoạt động của các quỹ, thị trường tài chính, thị trường tiền tệ phát triển, tạo lập được nguồn vốn nhàn rỗi và tăng khả năng đối phó với các rủi ro.
Bên cạnh đó, việc giám sát của các cơ quan quyền lực (Quốc hội, hội đồng nhân dân) và cơ quan kiểm toán còn hạn chế. Bài đăng trên tùng san Tài chính số 8 - 2013. Theo quy định các quỹ tài chính quốc gia thực hiện cơ chế "tự kiểm soát" ăn tiêu. Dù rằng nguyên tắc tự bảo toàn vốn được đặt ra khi quyết định thành lập, nhưng nhìn chung, trừ các quỹ tài chính có hình thức huy động, đóng góp của đối tượng hưởng lợi (Quỹ bảo hiểm xã hội bức, Quỹ bảo hiểm y tế, Quỹ bảo hiểm thất nghiệp…) và một số quỹ tài chính có đích an sinh tầng lớp, hỗ trợ người nghèo, người yếu thế trong xã hội, thì nhiều quỹ tài chính quốc gia nguồn vốn hoạt động cốt tử là từ NSNN, nguồn huy động ngoài ngân sách rất hạn chế (Quỹ phát triển khoa học quốc gia; Quỹ bảo vệ môi trường, Quỹ tương trợ phát triển hiệp tác xã.
). ; Quỹ đầu tư như: Quỹ đầu tư phát triển của địa phương, Quỹ phát triển nhà địa phương… - Xét theo mối quan hệ với NSNN: Các quỹ tài chính quốc gia được chia thành: Quỹ hoạt động độc lập với NSNN (NSNN không tương trợ vốn thành lập ban đầu và kinh phí trong quá trình hoạt động) như: Quỹ bảo hiểm từng lớp tình nguyện; Quỹ bảo hiểm y tế; Quỹ bình ổn giá xăng dầu…; Quỹ hoạt động độc lập tương đối với NSNN (được NSNN tương trợ vốn thành lập hoặc/và hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động bộc trực): Quỹ phát triển khoa học công nghệ nhà nước; Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam; Quỹ phát triển cộng tác xã Việt Nam… Thực tế thời gian qua số lượng các quỹ tài chính nhà nước tăng nhanh; đồng thời có khuynh hướng khi trình Quốc hội ban hành các luật quản lý chuyên ngành đều kèm theo các quy định về thành lập các quỹ tài chính nhà nước - Xét theo thuộc tính tài trợ của quỹ: Các quỹ tài chính nhà nước được chia thành: Quỹ có bồi hoàn (cho vay có thu hồi), như: Quỹ đầu tư phát triển địa phương; Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quỹ quốc gia giải quyết việc làm…; Quỹ không đền bù (cấp phát từ quỹ), như: Quỹ hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS; Quỹ bảo hiểm thất nghiệp…; Quỹ lưỡng tính (vừa cấp phát, vừa cho vay có thu hồi), như: Quỹ phát triển cộng tác xã Việt Nam; Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam.
Với việc phát triển các quỹ thì các hoạt động tài chính nhà nước cũng trở nên đa dạng, phong phú hơn. Nguồn: internet Nhìn từ nhu cầu và các quy định Các nước trên thế giới đều có quỹ tài chính ngoài ngân sách, cốt trong các lĩnh vực an sinh xã hội, coi ngó y tế, giao thông, lương hưu… Tuy nhiên, mức độ phát triển, quy mô và cơ chế quản lý, sử dụng các quỹ tài chính ngoài ngân sách khác nhau.
Ba là, tăng cường công tác rà, giám sát đối với các quỹ tài chính quốc gia.
Đồng thời, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của Luật NSNN về chế độ báo cáo, công khai đối với các quỹ tài chính quốc gia, để tăng cường vai trò thẩm tra, giám sát của các cơ quan quyền lực quốc gia và Kiểm toán quốc gia đối với các quỹ tài chính quốc gia.
Đối với các quỹ tài chính nhà nước Trung ương do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và giao cho các Bộ, cơ quan Trung ương quản lý, dùng cho các mục tiêu chung của nhà nước hoặc của ngành; các quỹ tài chính nhà nước địa phương do Ủy ban quần chúng cấp tỉnh quyết định thành lập, quản lý và dùng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Thứ hai, một số quỹ tài chính nhà nước chưa có phân định rõ ràng, trùng nguồn thu, nhiệm vụ chi với NSNN. ).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét